Trang chủ                  
 Tin tức                    
 Quan hệ cổ đông         
 Sản phẩm chính     
 Sản phẩm                  
 Hàng giá trị gia tăng
 Hàng xuất sang Nga
 Qui trình nuôi cá     
 Qui trình chế biến     
 Thiết kế bao bì      
 Công thức làm món ăn
Giao hàng    
 T.Phần dinh dưỡng
 Giấy chứng nhận        
 HACCP                       
 Hình sản phẩm      
 Hình hội họp       
 Tài liệu Download
 Tài liệu tham khảo
 Sơ đồ website                
 Giới thiệu                  
 Liên hệ                
 
Liên Hệ Trực Tuyến
 
        (84) 76 3932 821
        (84) 76 3931 000
      clfish@vnn.vn
  
          Ms.Ngoc
  
          Ms.Qui
  
          Ms.Nhung

Đang truy cập
1
Lần truy cập thứ
7142158
 
 
 
   Trang Chủ    Top 10 Doanh nghiệp XK cá tra hàng đầu VN 5 tháng đầu năm   Giá xuất khẩu cá tra 4 tháng đầu năm có xu hướng tăng    Ngày 4/6 diễn ra Hội thảo Dự báo ngành thủy sản Việt Nam Visio 2011   An Giang: Giá cá tra tăng cao, người dân lại đào ao nuôi cá   


Xây dựng bộ tiêu chuẩn của thương hiệu thủy sản Việt Nam


Thủy sản Việt Nam đang là một trong những ngành xuất khẩu lớn của Việt Nam và trong năm 2010 này nằm trong Top 10 nước xuất khẩu thủy sản của thế giới.
 

Có thể thấy, thủy sản Việt Nam đang là một thương hiệu khá uy tín đối với khu vực và thế giới. Vấn đề đặt ra xung quanh việc xây dựng bộ tiêu chuẩn của thương hiệu thủy sản Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu và các chuyên gia kinh tế, chuyên gia về thủy sản quan tâm. Theo đó, bộ tiêu chuẩn gồm tiêu chuẩn “cần phải có” (còn gọi là tiêu chuẩn “cứng”) là độ tin cậy của vệ sinh an toàn thực phẩm được bảo đảm; độ tin cậy của khách hàng về chất lượng được bảo đảm (dinh dưỡng, màu sắc, kích cỡ, mùi, vị…) và xu hướng “muốn có” (còn gọi tiêu chuẩn “mềm”) là đạo đức, môi trường và phúc lợi xã hội (cộng đồng, bảo vệ trẻ em); nguồn gốc đặc thù, phát triển bền vững, bảo vệ động vật; các sản phẩm sinh thái…

Ông Ngô Hùng, Giám đốc Công ty Lacoms, Quảng Ninh cho rằng: việc xây dựng thương hiệu phải được tiến hành tổng thể nhưng thực tế cho thấy kết quả xây dựng thương hiệu ngành thủy sản Việt Nam vẫn còn một số tồn tại, dù đã có ý thức xây dựng nhưng chưa có kiến thức và cách thức xây dựng thương hiệu, thiếu khả năng kiểm soát về chất lượng và tự định vị, tiến hành tự phát… Cũng đề cập đến vấn đề xây dựng bộ tiêu chuẩn, ông Ngô Hùng khẳng định: Đây là một nội dung cần kíp bởi qua xây dựng tiêu chuẩn thương hiệu xuất phát từ chính mong muốn của khách hàng được đảm bảo về quản lý an toàn thực phẩm với sự giám sát tổng thể toàn bộ chuỗi sản phẩm và kiểm soát chất lượng về màu sắc, kích cỡ, độ mịn, vị, mùi và sâu xa hơn nữa là từ nhu cầu mong muốn của khách hàng được bảo đảm về các vấn đề bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội. Do đó, yêu cầu đặt ra khi xây dựng tiêu chuẩn là phải phản ánh chính xác những đòi hỏi của thị trường, lợi ích phải bù đắp được chi phí tăng thêm…

Cũng phân tích về việc xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam, ông Nguyễn Tử Cương, Giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ và dịch vụ thủy sản Việt Nam (FITES) chia sẻ: trong thời kỳ hội nhập, những nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) và hiệp định an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh động và thực vật (SPS) của tổ chức thương mại thế giới còn phải xây dựng và quảng bá thương hiệu của mình đối với người tiêu dùng và xã hội. Theo ông Nguyễn Tử Cương, để đảm bảo cho vấn đề thương hiệu thủy sản Việt Nam, cần xây dựng và công bố tài liệu nghiệp vụ xây dựng, quảng bá và quản lý thương hiệu và cần xây dựng, công bố chiến lược thương hiệu thủy sản theo các cấp độ: thương hiệu thủy sản quốc gia, thương hiệu ngành hàng thủy sản, thương hiệu của từng đơn vị, tổ chức đồng thời cần có kế hoạch hàng năm về xây dựng những thương hiệu có thể thể mạnh nhưng đạt mục tiêu khuyếch trương, mở rộng thị trường. Để làm được như vậy, cần xây dựng tổ chức tư vấn về thương hiệu (giỏi nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm thực tế) để hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là giai đoạn đầu, cần tổ chức nhiều khóa tập huấn về xây dựng, quảng bá và quản lý thương hiệu và đặc biệt cần có cơ quan quản lý của Bộ về thương hiệu để tham mưu xây dựng quy chế xây dựng, quảng bá và quản lý thương hiệu thủy sản Việt Nam, có chính sách hỗ trợ các tỉnh, các công ty, doanh nghiệp xây dựng chiến lược thương hiệu, hỗ trợ tài chính đăng ký và bảo hộ thương hiệu cùng các chính sách hỗ trợ giải quyết tranh chấp vi phạm nhãn hiệu, thương hiệu và bản quyền trong nước, quốc tế…

Đảm bảo các yêu cầu của các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam

Mức tối thiểu cần đáp ứng để được cho phép xuất khẩu vào các thị trường: Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, LB Nga… được cho là cần phải đáp ứng yêu cầu “cứng” của thương hiệu.

Đó là đảm bảo an toàn thực phẩm, cụ thể: đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định bắt buộc áp dụng (quản lý theo quá trình theo HACCP, GMP, SSOP, GAP); được cơ quan thẩm quyền Việt Nam kiểm tra, giám sát; được cơ quan thẩm quyền các nước nhập khẩu công nhận cho phép xuất khẩu; sản phẩm được kiểm tra, chứng nhận phù hợp Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Quy định về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP); là các chương trình giám sát quốc gia, các Phòng kiểm nghiệm đạt yêu cầu quốc tế ISO17025. Theo đó, thực hiện chuyến đổi phương thức kiểm soát ATVSTP thủy sản của các nước: quản lý́ theo nguyên lý kiểm soát quá trình “từ ao nuôi đến bàn ăn”, bắt buộc các cơ sở sản xuất – kinh doanh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm theo HACCP, GMP, SSOP; yêu cầu thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm; đưa ra hệ thống luật lệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe dựa trên đánh giá cơ ATTP nhằm đảm bảo mức bảo vệ phù hợp; thống nhất đầu mối và tăng cường năng lực cho cơ quan thẩm quyền Nhà nước kiểm soát về ATVSTP; tăng cường xã hội hóa hoạt động kiểm nghiệm, chứng nhận từ bên thứ 3.

Đồng thời thực hiện chuyển đổi phương thức kiểm soát tại Việt Nam với việc thành lập và xây dựng năng lực cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam: ban đầu là NAFIQACEN (trước đây thuộc Bộ Thủy sản), nay là Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thuỷ sản (NAFIQAD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT). Rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, liên quan đến lĩnh vực an toàn vệ sinh và thú y, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn tương đương với các tiêu chuẩn quốc tế; Nâng cấp điều kiện ATVSTP các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam theo tiêu chuẩn Ngành và đáp ứng yêu cầu các thị trường nhập khẩu; Triển khai chương trình dư lượng hoá chất độc hại trong thủy sản nuôi, chương trình kiểm soát vùng thu hoạch NT2MV… Ký kết các văn bản thoả thuận song phương, hợp tác về kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản với Cơ quan thẩm quyền các nước nhập khẩu.

Hiện nay, nhiều chuyên gia cho biết: hiện trạng phân công kiểm soát an toàn ATVSTP thủy sản tại Việt Nam do Bộ NN&PTNT quản lý chung và có phân cấp cụ thể: Sản xuất, kinh doanh sử dụng thuốc thú y do Cục Thú y chịu trách nhiệm; Sản xuất, kinh doanh sử dụng thức ăn, hóa chất do Cục Nuôi trồng thủy sản chịu trách nhiệm; Hướng dẫn, giám sát áp dụng GaqP do Cục Nuôi trồng thủy sản chịu trách nhiệm; Giám sát dư lượng, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ do NAFIQAD chịu trách nhiệm… Khai thác, vận chuyển trên biển do Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản chịu trách nhiệm, Điều kiện vệ sinh tàu cá, cảng cá, bốc dỡ cá lên bờ do NAFIQAD chịu trách nhiệm; Thu gom, sơ chế, chế biến NAFIQAD do Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm; Kiểm tra, kiểm dịch, chứng nhận thực phẩm thủy sản xuất khẩu, chứng nhận CL, ATTP thủy sản nhập khẩu để chế biến do NAFIQAD chịu trách nhiệm; Điều tra, truy xuất nguyên nhân, khắc phục sự cố ATTP do NAFIQAD chịu trách nhiệm.

Yêu cầu đặc thù tại một số thị trường trên thế giới

Tại thị trường Liên bang Nga, cơ quan thẩm quyền là Cục Kiểm dịch động thực vật LB Nga (VPSS) với một số yêu cầu chính: Cơ sở sản xuất thuỷ sản được cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu giám sát điều kiện đảm bảo VSATTP; được VPSS trực tiếp kiểm tra, cho phép xuất khẩu vào Liên bang Nga; Thủy sản và sản phẩm thủy sản phải được cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu kiểm tra các tiêu chuẩn ATTP, xác nhận phù hợp theo quy định của Liên bang Nga; Mỗi lô hàng thủy sản xuất khẩu phải kèm theo chứng thư có biểu hiện chống giả mạo theo mẫu đã được thống nhất với VPSS.

Thực tế, một số hoạt động và kết quả đã triển khai tại thị trường này là: đáp ứng các yêu cầu của VPSS (Danh sách doanh nghiệp, mẫu chứng thư, tiếp đón và làm việc với các đoàn thanh tra Nga, điều tra nguyên nhân các lô hàng bị cảnh báo...); Phối hợp VASEP, Bộ ngành liên quan thông báo kịp thời tới doanh nghiệp các thông tin, qui định, yêu cầu của thị trường, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; Hiện tại có 30 doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam trong Danh sách được phép xuất khẩu vào Liên bang Nga.

Tại thị trường Australia, cơ quan thẩm quyền, cơ quan thanh tra và kiểm dịch Úc (AQIS) với một số yêu cầu chính đối với tôm nhập khẩu vào Úc (Quy định IRA) cụ thể là có xuất xứ từ nước/vùng sạch bệnh WSSV, YHV, IHHNV, TSV, NHPB, được cơ quan thẩm quyền Úc chấp nhận; Tôm bóc vỏ, bỏ đầu (chỉ còn đốt cuối và đuôi) và mỗi lô tôm khi đến Úc bị lấy mẫu xét nghiệm âm tính đối với các bệnh trên; Sản phẩm tôm được chế biến sâu (bóc vỏ, bỏ đầu và bao bột, tẩm bột hoặc thịt tôm làm nem, viên, hoặc há cảo); Tôm được xử lý nhiệt (luộc) bởi cơ sở được Cơ quan thẩm quyền công nhận.

Thực tế một số kết quả đã triển khai: tổ chức nghiên cứu dự thảo báo cáo IRA, gửi văn bản góp ý tới Australia; Liên hệ với Thương vụ Việt Nam tại Australia, cử Đoàn sang làm việc với Hội nhập khẩu thuỷ sản Úc; làm việc với Biosecurity và AQIS về hợp tác kiểm tra chứng nhận hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Australia; Đề nghị Biosecurity phối hợp cử chuyên gia đánh giá và công nhận vùng nuôi sạch bệnh của Việt Nam; đề nghị Úc phối hợp với Việt Nam nghiên cứu và đề xuất phương pháp kiểm nghiệm phù hợp, nâng cấp các phòng xét nghiệm bệnh tôm.

Tại thị trường New Zealand, tiêu chuẩn y tế về nhập khẩu cá rô phi và cá tra dùng làm thực phẩm được Bộ An ninh sinh học Nông Lâm nghiệp New Zealand đưa ra ngày 20/3/2009. Theo đó, lô hàng cá tra của Việt Nam xuất khẩu sang New Zealand phải kèm theo chứng thư vệ sinh, trong đó Cơ quan thẩm quyền phải xác nhận các nội dung chính sau: tên, địa chỉ, mã số đăng ký của trại nuôi; tên, địa chỉ, mã số đăng ký của cơ sở chế biến; loài nuôi.

Còn tại thị trường EU, quy định của EU về chứng nhận thủy sản đánh bắt được nêu trong Quy định số 1005/2008/EC ngày 29/9/2008 của Uỷ ban Châu Âu về việc thiết lập hệ thống phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ các hoạt động khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo qui định (Quy định IUU) có hiệu lực từ 01/01/2010 trong đó ghi rõ: sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU sau ngày 01/01/2010 phải có giấy chứng nhận đánh bắt. Cơ quan chức năng của nước có tàu đánh bắt phải xác nhận rằng thủy sản được đánh bắt trên tàu là phù hợp với quy định của pháp luật và quốc tế về quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản. Chứng nhận này phải được hợp thức bởi cơ quan có thẩm quyền.

Bên cạnh đó là các Thoả thuận công nhận tương đương, công nhận lẫn nhau (tính đến tháng 11/2008), gồm: Quyết định số 2004/267/EC của ủy ban Châu Âu công nhận NAFIQAD; Thỏa thuận Hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát Chất lượng, an toàn vệ sinh thủy sản; Thoả thuận về kiểm tra chứng nhận dư lượng thuốc thu y thuỷ sản xuất khẩu sang Canada; Thỏa thuận về thanh tra kiểm dịch và giám sát vệ sinh sản phẩm thực phẩm thủy sản xuất nhập khẩu; Thỏa thuận Hợp tác kỹ thuật trong việc kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm thủy sản; Thỏa thuận Hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản và bảo vệ sức khỏe động thực vật dưới nước và lưỡng cư; Biên bản các Phiên họp nhóm công tác Việt Nam – Liên bang Nga về chất lượng và an toàn thực phẩm thủy sản và sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu…

Từ thực tế hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, theo các chuyên gia, để đáp ứng nhu cầu hội nhập, chúng ta cần: Thường xuyên cập nhật chính sách, qui định, tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước; qui định tiêu chuẩn kỹ thuật tham chiếu quốc tế (của CODEX, OIE, IPPC hoặc của đối tác khác); Hoàn thiện hệ thống luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam; Củng cố hệ thống cơ quan quản lý chất lượng Nông - Lâm sản và Thủy sản từ Trung ương đến địa phương (Nghị định 79/2008/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 31/2009/TTLT-BNN-BNV); Đầu tư hệ thống phòng kiểm nghiệm chất lượng, ATVSTP theo chuẩn quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật (kiểm tra viên, kiểm nghiệm viên, kiểm dịch viên…); Tăng cường xã hội hóa hoạt động kiểm nghiệm, chứng nhận hệ thống QLCL; Tăng cường quản lý ATVSTP khu vực trước chế biến (cơ sở sản xuất giống, nuôi, khai thác, bảo quản, thu mua thủy sản). Áp dụng và chứng nhận GAP (Good Aquaculture Practise) đối với cơ sở nuôi thủy sản. Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản; Không ngừng nâng cao nhận thức, năng lực kiểm soát chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn dịch bệnh cho toàn bộ hệ thống (cơ quan nhà nước và doanh nghiệp); Tăng cường hợp tác với cơ quan thẩm quyền của các nước để đàm phán tiến tới ký kết Thoả thuận công nhận tương đương để tránh kiểm tra 2 lần… HA.NV
(BNT)

Các tin khác

[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
1.   Cá tra trên thị trường xuất khẩu: Từ rào kỹ thuật, đến văn hoá tiêu dùng (2010-12-10)
2.   Yêu cầu WWF thu hồi “tờ rơi” về cá tra (2010-12-10)
3.   Cần đưa cá tra ra khỏi danh sách đỏ khi chưa có cơ sở khoa học và thực tế (2010-12-09)
4.   Làm gì để bảo vệ nguồn lợi thủy sản? (2010-12-03)
5.   Giá cao gây áp lực cho các nhà chế biến (2010-12-03)
6.   WWF đưa cá tra vào danh sách đỏ (2010-12-02)
7.   EU hỗ trợ ngư dân đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu (2010-12-01)
8.   Nông sản, thủy sản ồ ạt "chảy" qua Trung Quốc (2010-12-01)
9.   Siết chặt nuôi và xuất khẩu cá tra (2010-11-30)
10.   Nhân giống tốt tạo bước nhảy vọt về nuôi trồng thuỷ sản (2010-11-30)
http://www.vietfish.com.vn http://www.chinaseafoodexpo.com http://www.bostonseafood.com http://www.euroseafood.com http://www.polfishfair.pl http://www.tunatradeconference.com
Vietnam Fisheries International Exhibition 2010
(12-14 June 2010)
China Fisheries & Seafood Expo 2010
(2-4 November 2010)
The International Boston Seafood Show
(14-16 March, 2010)
European Seafood Exposition 2010
(27-29 Apr 2010)
Polfish International Fair of Fish Processing and Fish Products
(31.05-02.06.2011)
Gulfood 2010 - Dubai
(27-02 March 2011)
 

|Trang chủ |  Tin tức |  Tài liệu |  Sản phẩm chính |  Sản phẩm |  Hàng giá trị gia tăng |  Hàng xuất sang Nga |  Qui trình nuôi cá |

 | Qui trình chế biến |  Thiết kế bao bì |  Thành phần dinh dưỡng |  Công thức làm món ăn |  Giới thiệu |  Liên hệ |

Bản quyền thuộc về công ty Cổ phần XNK Thủy sản Cửu Long An Giang.
Địa chỉ website: http://www.clfish.com.
Email: clfish@vnn.vn.
Thiết kế bởi: pangafish.com.