CÔNG TY CỔ PHẦN XNK TS CỬU LONG - AN GIANG

Tel: 84-76-931000 -Fax: 84-76-932009 - Email: clfish@vnn.vn

 

 

QUI PHẠM VỆ SINH CHUẨN - SSOP

 

Mă số tài liệu : CL – SSOP

Ngày ban hành : 02/05/2007

Lần ban hành : 01

Số tu chỉnh : 02

Số trang : 29/33

 

SSOP 10 : KIỂM SOÁT CHẤT THẢI

 

1 . YÊU CẦU :

Chất thải phải được đưa ra khỏi phân xưởng sản xuất liên tục, không cho phép để lại trong khu vực sản xuất bất kỳ loại chất thải nào làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường trong phân xưởng sản xuất, đảm bảo không gây nhiễm cho sản phẩm.

2 . ĐIỀU KIỆN HIỆN TẠI CỦA CÔNG TY :

-   Công ty có hệ thống xử lư nước thải có công xuất 600 m3 /ngày. 

-   Chất thải của Công ty gồm có chất thải dạng rắn (xương, đầu, nội tạng, da, vụn, mỡ cá, bao b́ hư …) và chất thải dạng lỏng (nước rửa).

-   Toàn bộ chất thải rắn được chứa đựng trong thùng, rổ chuyên dùng có kư hiệu riêng biệt để dưới nền trong từng khu vực sản xuất và được vận chuyển thường xuyên ra bên ngoài.

-   Công ty có đội ngũ công nhân riêng biệt chuyên thu gom liên tục chất thải rắn và chuyển ra khỏi khu vực phân xưởng.

-   Nền phân xưởng, hệ thống cống rănh được xây dựng theo nguyên tắc nước thải chảy từ khu vực sạch hơn sang khu vực ít sạch hơn, dốc ra ngoài và đủ lớn, không có hiện tượng ngưng đọng nước trong xưởng chế biến.

-   Hệ thống bơm nước thải hoạt động 24/ 24 giờ, đảm bảo toàn bộ nước thải được bơm ra ngoài, không lưu đọng lâu tạo mùi hôi quanh khu vực sản xuất.

3 .CÁC THỦ TỤC CẦN TUÂN THỦ:

-   Chất thải rắn phải được thu gom và đưa ra khỏi khu vực sản xuất thường xuyên và được chuyển nhanh về nơi tập trung bên ngoài phân xưởng. Không được để chất thải quá đầy trong dụng cụ chứa đựng.

-   Dụng cụ chứa đựng chất thải rắn phải kín, không có lỗ thoát nước, được làm bằng vật liệu không thấm nước phù hợp, không bị ăn ṃn, dễ làm vệ sinh và được phân biệt rơ ràng với dụng cụ chứa đựng nguyên vật liệu và sản phẩm.

-   Dụng cụ chứa đựng phải được làm vệ sinh sạch sẽ trước khi đưa trở lại phân xưởng và cuối mỗi ca sản xuất. Được bảo quản riêng biệt bên ngoài phân xuởng sản xuất.

-   Các đường cống thoát nước có lưới chắn ở cuối để chặn lại các chất thải rắn, không cho thoát ra hệ thống xử lư nước thải. Tuyệt đối không được di chuyển các lưới chắn này ra khỏi vị trí.

-     Cống rănh, bẫy thoát nước luôn được bảo dưỡng và thường xuyên cọ rửa, tránh tắt nghẽn.

- Kiểm tra thường xuyên hệ thống bơm nước thải tránh hiện tượng ứ đọng, chảy ngược tạo mùi hôi quanh khu vực sản xuất.

4 . GIÁM SÁT VÀ PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM :

-   Đội trưởng, Tổ trưởng các đội có trách nhiệm triển khai qui phạm này.

-   Công nhân Tổ thu gom phế liệu, Tổ vệ sinh công nghiệp và ca trực kỹ thuật tại Công ty có nhiệm vụ thực hiện qui phạm này.

- QC phụ trách sản xuất tại các đội có trách nhiệm giám sát việc làm vệ sinh và bảo dưỡng hệ thống thoát và xử lư nước thải ngày 02 lần. Kết quả kiểm tra ghi vào Báo cáo kiểm tra vệ sinh hàng ngày (Nhà xưởng, máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất) (CL - SSOP - BM 03).

- Mọi bổ sung, sửa đổi qui phạm này phải được Ban Giám Đốc phê duyệt.

5 . HÀNH ĐỘNG SỬA CHỮA :

Nếu thấy nước thải thoát không kịp, thấy có mùi hôi trong phân xưởng, QC tại các khu vực sản xuất phải kiểm tra lại việc thu gom phế liệu và làm vệ sinh, phải kiểm tra lại hệ thống cống rănh thoát nước , hệ thống xử lư nước thải và báo ngay cho Ban Điều Hành sản xuất để có biện pháp xử lư kịp thời, không để ảnh hưởng đến môi trường bên trong khu vực sản xuất.

6 . THẨM TRA :

- Hồ sơ ghi chép việc thực hiện qui phạm này được Đội trưởng Đội HACCP hoặc Trưởng, Phó Ban điều hành sản xuất (thành viên Đội HACCP) thẩm tra.

7 . HỒ SƠ LƯU TRỮ :

-       Báo cáo kiểm tra vệ sinh hàng ngày (Nhà xưởng, máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất) (CL - SSOP - BM 03).

Tất cả các hồ sơ ghi chép về việc thực hiện qui phạm này đă được thẩm tra phải được lưu giữ trong bộ hồ sơ SSOP của Công ty ít nhất 2 năm.

                                                                                                                                                                   

      Ngày 28/ 04 /2007

                                                                                               Người phê duyệt

 

 

        Nguyễn Xuân Hải